Dự thảo Quy hoạch mạng lưới đường sắt mới trình Chính phủ có gì đặc biệt?

QUÝ NGUYỄN
Giaothonghanoi - Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) vừa trình Chính phủ phê duyệt Dự thảo Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 với nhiều điểm nhấn đáng chú ý.
 Mạng lưới đường sắt Việt Nam đến năm 2050 sẽ có rất nhiều thay đổi.

Nhiều tuyến mới được bổ sung

Một trong những điểm đáng chú ý nhất trong bản dự thảo này chính là việc mạng lưới đường sắt Quốc gia định hướng đến 2050 sẽ có 25 tuyến đường sắt chính, trong đó điểm nhấn lớn nhất là hoàn thành tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam.

Như vậy, đến năm 2050, sẽ có thêm 18 tuyến đường sắt mới được bổ sung vào mạng lưới đường sắt Quốc gia và tăng thêm 9 tuyến so với kỳ quy hoạch đến năm 2030 với chiều dài tăng thêm là 1.538 km.

Trong đó, 7 tuyến chính hiện hữu, với chiều dài 2.440 km sẽ tiếp tục được duy trì gồm: Hà Nội – TP Hồ Chí Minh; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội (Gia Lâm) - Hải Phòng; Hà Nội (Đông Anh) - Thái Nguyên (Quán Triều); Hà Nội (Yên Viên) - Lạng Sơn (Đồng Đăng); Kép - Chí Linh; Kép - Lưu Xá.

Bên cạnh đó, các tuyến đường sắt mới quan trọng như tuyến Biên Hoà - Vũng Tàu, Vũng Áng - Tân Ấp - Mụ Giạ, Dĩ An - Lộc Ninh, TP Hồ Chí Minh - Cần Thơ, Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, Hà Nội - Đồng Đăng sẽ tiếp tục hoàn thành để bổ sung vào mạng lưới đường sắt quốc gia.

Đặc biệt, “siêu dự án” Đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam sẽ được triển khai và đưa vào khai thác. Đây là tuyến đường sắt mới có vai trò quan trọng nhất trong mạng lưới đường sắt nước ta trong tương lai.

 Tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam sẽ là điểm nhấn đáng chú ý nhất của mạng lưới đường sắt nước ta trong tương lai.

Ưu tiên vốn cho đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam

Về nhu cầu vốn cho Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, bản dự thảo của Bộ GTVT chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn từ 2021 – 2030 sẽ ưu tiên bố trí vốn đầu tư hoàn thành 2 khu đoạn đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam gồm đoạn Hà Nội - Vinh, TP Hồ Chí Minh - Nha Trang; Tiếp theo hoàn thành đoạn Vinh - Đà Nẵng giai đoạn đến năm 2040 và đoạn Đà Nẵng - Nha Trang hoàn thành vào năm 2050.

Ngoài ra, giai đoạn này cũng sẽ ưu tiên vốn để hoàn thành xây dựng tuyến Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - cảng Cái Lân; Xây dựng đường sắt nối cảng Lạch Huyện, Đình Vũ với đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân; Xây dựng đường sắt vành đai phía Đông Hà Nội (Ngọc Hồi - Lạc Đạo - Bắc Hồng); Xây dựng tuyến đường sắt nhẹ Thủ Thiêm - Long Thành.

Giai đoạn 2030 – 2050 dự thảo quy hoạch định hướng xây dựng tuyến đường sắt kết nối vùng, liên vùng theo nhu cầu thực tế: Đường sắt ven biển Nam Định - Thái Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh (Hạ Long), Hạ Long - Móng Cái; Thái Nguyên - Tuyên Quang - Yên Bái; Đường sắt từ cảng Mỹ Thủy - Đông Hà - Lao Bảo kết nối với Lào.

Trong giai đoạn này cũng sẽ tiến hành xây dựng đường sắt kết nối các tỉnh khu vực Tây Nguyên (Đà Nẵng - Kon Tum - Gia Lai - Đắk Lắk - Đắk Nông - Bình Phước (Chơn Thành), trong đó ưu tiên đoạn Đắk Nông - Chơn Thành; Khôi phục tuyến đường sắt Tháp Chàm - Đà Lạt, dài khoảng 84 km theo nhu cầu phục vụ du lịch; Hoàn thành các tuyến đường sắt tại các khu đầu mối.

Để tạo ra sự thay đổi đột phá trong mạng lưới đường sắt quốc gia trong tương lai sẽ cần một nguồn vốn đầu tư khổng lồ. 

Vốn đầu tư "khủng", lấy ở đâu?

Một trong những vấn đề được dư luận đặc biệt quan tâm là sẽ cần khoảng bao nhiêu tiền để hiện thực hóa 2 giai đoạn đầu tư mạng lưới đường sắt Quốc gia đến năm 2050 mà dự thảo của Bộ GTVT đề ra.

Trước đó, dự thảo Quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 được Cục Đường sắt Việt Nam trình Bộ GTVT đã đưa ra con số rất “khủng” để hiện thực hóa quy hoạch này.

Cụ thể, quy hoạch đưa ra mục tiêu đến năm 2030, vận tải hàng hóa đạt 11,8 triệu tấn, chiếm thị phần khoảng 0,3%; vận tải hành khách đạt 460 triệu khách, chiếm thị phần 1,08%. Đi cùng với đó, mạng lưới đường sắt quốc gia thời kỳ 2021 - 2030 sẽ được quy hoạch theo 16 tuyến với chiều dài 4.746,4 km. Trong đó có 7 tuyến chính hiện hữu với chiều dài 2.378,4 km và quy hoạch để chuẩn bị, thực hiện đầu tư 9 tuyến đường sắt mới với chiều dài 2.368 km.

Đặc biệt, tổng nhu cầu vốn để thực hiện 9 tuyến mới được đề xuất ưu tiên đầu tư giai đoạn 2021 - 2030 là 112.325 tỷ đồng. Bên cạnh đó, để hoàn thành các tuyến khác như Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - cảng Cái Lân (xây dựng mới đoạn Lim - Phả Lại; nâng cấp, cải tạo đoạn Yên Viên - Lim, đoạn Phả Lại - Hạ Long), đường đơn, khổ lồng 1.000 mm và 1.435 mm, dài khoảng 129 km, nhu cầu vốn 6.000 tỷ đồng.

Để hoàn thành các tuyến đường sắt nối cảng Lạch Huyện, Đình Vũ với đường sắt Yên Viên - Phả Lại - Hạ Long - Cái Lân bao gồm: đoạn Mạo Khê - Dụ Nghĩa - Nam Hải Phòng; đoạn Nam Hải Phòng nối cảng Lạch Huyện, Đình Vũ; đường đơn, khổ lồng 1.000 mm và 1.435 mm, dài khoảng 78 km, nhu cầu vốn 48.400 tỷ đồng.

Cùng với đầu tư xây dựng mới các tuyến đường sắt, Dự thảo quy hoạch còn đề xuất ưu tiên bố trí 47.269 tỷ đồng để nâng cấp các tuyến đường sắt hiện có trong giai đoạn 2021 - 2030 nhằm nâng cao năng lực hạ tầng, khai thác hiệu quả vận tải.

TS Nguyễn Xuân Thủy – Chuyên gia giao thông nhận định, nhìn vào bản dự thảo quy hoạch mạng lưới đường sắt thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050 có thể thấy trong khoảng 10 năm tới và rộng ra là trong khoảng 30 năm tới mạng lưới đường sắt nước ta sẽ thật sự “thay da đổi thịt”. “Quan trọng nhất là tuyến đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam sẽ là điểm nhấn quan trọng nhất trong bức tranh đường sắt nước ta lúc bấy giờ đồng thời cũng tạo ra sự thay đổi lớn nhất của mạng lưới đường sắt nước ta” – TS Nguyễn Xuân Thủy cho biết.

Tuy nhiên, chuyên gia giao thông này cho rằng, để hiện thực hóa bản quy hoạch này cũng cần một số vốn đầu tư khổng lồ. Trong bối cảnh ngân sách Nhà nước đang còn gặp nhiều khó khăn và phải san sẻ cho nhiều dự án giao thông lớn như sân bay Long Thành, cao tốc Bắc – Nam thì việc huy động đủ số tiền lớn này là điều không dễ dàng.

Độc giả bình luận

* Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu