Kinh nghiệm quản lý, sử dụng nguồn vốn trong đầu tư hạ tầng giao thông tại một số quốc gia châu Á

 
Phương pháp phân chia hợp lý chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng giữa Chính phủ và các công ty vận hành giúp duy trì ổn định giá vé...
Một đoàn tàu Shinkansen, Nhật Bản

Nhật Bản: Xây dựng hệ thống giao thông đường sắt cao tốc Shinkansen 

Hệ thống đường sắt của Nhật Bản đã được định hình ý tưởng từ thập niên 50 của thế kỷ 20. Vào năm 1957, Tập đoàn Đường sắt Odakyu đã ra mắt chuỗi toa tàu 3000SE với tốc độ di chuyển lên tới 145 km/h, đạt kỷ lục thế giới vào thời điểm bấy giờ. Sự thành công về mặt tốc độ di chuyển của hệ thống tàu 3000SE đã khiến cho các kỹ sư của Nhật Bản củng cố niềm tin về khả năng chế tạo những hệ thống tàu cao tốc có độ an toàn cao và đáng tin cậy, trong bối cảnh tuyến đường sắt Tokyo-Osaka đang trở nên quá tải.

Hệ thống đường sắt cao tốc Tokaido Shinkansen với chiều dài 515km đã được đưa vào hoạt động vào năm 1960 sau 5 năm xây dựng. Đoàn tàu đầu tiên được đưa vào hoạt động trên tuyến đường sắt này mang tên 0 Shinkansen (ban đầu có tối đa 12 toa tàu), được chế tạo bởi Tập đoàn Kawasaki. Hệ thống tàu 0 Shinkansen ban đầu có vận tốc thử nghiệm vào khoảng 260 km/h và vận tốc chở khách lên tới 210 km/h, hoạt động tại các thành phố Tokyo, Nagoya, Kyoto và Osaka.

Vào năm 1987, dựa trên những thỏa thuận giữa Chính phủ Nhật Bản và các tập đoàn, Tập đoàn Đường sắt quốc gia Nhật Bản được tách ra làm 7 công ty con. Lớn nhất trong số các công ty được tách ra là Công ty Đường sắt Đông Nhật Bản (JR East) với số lượng hành khách đông nhất. Các công ty này hoạt động trên nguyên tắc đạt lợi nhuận và không nhận hỗ trợ từ phía Chính phủ. Công ty thành công nhất dựa trên mô hình hoạt động này là JR East, dựa trên khả năng đầu tư, sở hữu và quản lý cơ sở hạ tầng (bao gồm hệ thống bán vé, ga tàu, tuyến đường ray) trên các tuyến đường của mình mà không có sự can thiệp quản lý từ phía Chính phủ - đồng nghĩa với việc có ít các nhóm quản lý làm chồng chéo nhiệm vụ của nhau.

Singapore: Cải tổ hệ thống giao thông công cộng

Xe buýt thuộc Tập đoàn SBS, Singapore

Vào năm 1996, Chính phủ Singapore đã công bố kế hoạch cải tổ chi tiết hệ thống giao thông đường bộ đầy tham vọng, với mục tiêu nâng hệ thống giao thông đường bộ của toàn bộ đảo quốc sư tử đến tầm cỡ hiện đại nhất thế giới trong vòng từ 10 - 15 năm. Kế hoạch cải tổ bao gồm thiết lập lại hệ thống tính phí taxi, hệ thống thu phí đường bộ điện tử (Electronic Road Pricing).

Kế hoạch trên của Chính phủ Singapore được thiết lập dựa trên dự đoán về lưu lượng sử dụng các phương tiện giao thông công cộng lên tới 75% tổng thời gian hoạt động của tất cả các phương tiện đường bộ. Để đạt được con số ấn tượng trên, Chính phủ đã tiến hành cải tổ hoàn toàn cơ sở hạ tầng hệ thống giao thông đường bộ, áp dụng các biện pháp khuyến khích người dân sử dụng các phương tiện giao thông công cộng. Một trong những kế sách nhằm đạt được kế hoạch trên là xây dựng một hệ thống đường sắt đô thị bao bọc toàn bộ mạng lưới giao thông của toàn bộ đảo quốc.

Theo kế hoạch, Chính phủ Singapore sẽ đảm nhiệm cấp vốn xây dựng cơ sở hạ tầng ban đầu cho hệ thống giao thông công cộng (bao gồm bến xe, bến tàu, hệ thống đường hầm và đường sắt). Các công ty vận hành và người sử dụng sẽ chịu trách nhiệm chi trả chi phí vận hành dựa trên phí sử dụng cơ sở hạ tầng và phí mua vé đi lại. Bên cạnh đó, các công ty vận hành sẽ phải cam kết đảm bảo phải thu hồi được chi phí xây dựng ban đầu trong vòng 30 năm nhằm đảm bảo nguồn vốn dự trữ để kịp thời bảo trì, thay mới hệ thống cơ sở hạ tầng. Trong trường hợp chi phí thay thế cơ sở hạ tầng cao hơn so với chi phí ban đầu, các công ty vận hành chỉ cần bỏ ra số tiền tương đương với chi phí xây dựng của hệ thống cơ sở hạ tầng ban đầu, phần chênh lệch sẽ được Chính phủ Singapore chi trả nhằm đảm bảo trách nhiệm của các bên.

Phương pháp phân chia hợp lý chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng giữa Chính phủ và các công ty vận hành giúp duy trì ổn định giá vé sử dụng các phương tiện giao thông công cộng, đồng thời thu hút đủ nguồn vốn để mở rộng quy mô hoạt động của hệ thống giao thông công cộng. Cũng nhờ phương pháp trên, hệ thống đường sắt đô thị MRT với hai tuyến và 57 trạm ban đầu đã được mở rộng lên tới 5 tuyến với số lượng nhà ga lên đến 121 trạm vào năm 2013, đưa tổng chiều dài đường ray từ 94,4km lên tới 170,7km. Bên cạnh đó, Chính phủ Singapore cũng cam kết hoàn thành tuyến đường sắt đô thị thứ 6 vào năm 2024, tăng cường thêm 31 trạm ga và 43km đường ray vào hệ thống giao thông của toàn đảo quốc.

Nhằm đảm bảo tính cạnh tranh và hiệu suất hoạt động cao, Chính phủ Singapore giao quyền hoạt động và thu phí cho các tập đoàn vận hành như SMRT Trains và SBS Transit. Các công ty vận hành có trách nhiệm đóng phí sử dụng cơ sở vật chất cho Cục Giao thông Đường bộ, đảm bảo chất lượng hoạt động của cơ sở hạ tầng giao thông. Phương pháp giao quyền vận hành cũng giúp tạo động lực khiến các công ty vận hành duy trì chất lượng hoạt động và tính cạnh tranh.

Theo tạp chí Giao thông

Độc giả bình luận

* Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng. Xin vui lòng gõ tiếng Việt có dấu